Magnaporthe grisea

Magnaporthe grisea
Một bào tử đính và cuống bào tử của nấm M. grisea
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Fungi
Ngành (phylum)Ascomycota
Lớp (class)Sordariomycetes
Bộ (ordo)Magnaporthales
Họ (familia)Magnaporthaceae
Chi (genus)Magnaporthe
Loài (species)M. grisea
Danh pháp hai phần
Magnaporthe grisea
(T.T. Hebert) M.E. Barr
Danh pháp đồng nghĩa

Ceratosphaeria grisea T.T. Hebert, (1971)
Dactylaria grisea (Cooke) Shirai, (1910)
Dactylaria oryzae (Cavara) Sawada, (1917)
Phragmoporthe grisea (T.T. Hebert) M. Monod, (1983)
Pyricularia grisea Sacc., (1880) (anamorph)
Pyricularia grisea (Cooke) Sacc., (1880)
Pyricularia oryzae Cavara, (1891)
Trichothecium griseum Cooke,

Trichothecium griseum Speg., (1882)

Magnaporthe grisea, còn được gọi là nấm đạo ôn là một loại nấm gây bệnh đạo ôn ở cây lúa. Ngày nay người ta biết rằng M. grisea bao gồm phức hợp loài khó hiểu có chứa ít nhất hai loài sinh vật có sự khác biệt rõ ràng di truyền và không lai giống[1]. Các thành viên phức tạp được phân lập từ Digitaria đã được định nghĩa một cách hạn hẹp là M. grisea. Bào tử của loại nấm rất nhỏ, có thể phát tán và bay cao 24–25 m, thậm chí có thể bay xa đến 10.000 m lây lan cho các ruộng lân cận trong khu vực.

Các thành viên còn lại của phức hợp này được phân lập từ lúa và một loạt các cây chủ khác đã được đổi tên thành Magnaporthe oryzae. Sự nhầm lẫn về hai cái tên này để sử dụng cho tác nhân gây bệnh đạo ôn vẫn còn, khi cả hai đang được sử dụng bởi các tác giả khác nhau. Bệnh hại trên lá, đốt thân, cổ bông, gié và hạt lúa. Loài nấm này có thể lây nhiễm bất kỳ giai đoạn sinh trưởng nào của cây lúa. Vết bệnh tiêu biểu trên lá có hình thoi, những đốm to thì hai đầu nhọn, tâm có màu xám trắng. Trên giống nhiễm, các vết bệnh rất to thường liên kết với nhau tạo thành mảng cháy khô trên lá[2]. Trên giống kháng, các vết bệnh thường rất nhỏ, bằng đầu kim màu nâu, rất dễ nhầm lẫn với vết bệnh tiêm lửa hoặc đốm nâu mới phát triển.

Bệnh đạo ôn đã được quan sát thấy trên các giống lúa M-201, M-202, M-204, M-205, M-103, M-104, S-102, L-204, Calmochi-101, với M-201 là giống dễ bị bệnh nhất.[3] Các thành viên của phức tạp Magnaporthe grisea cũng có thể lây nhiễm sang các loại ngũ cốc khác nông nghiệp quan trọng, bao gồm lúa mì, lúa mạch đen, lúa mạch, kê. Bệnh đạo ôn gây thiệt hại cây trồng kinh tế quan trọng hàng năm. Mỗi năm người ta ước tính bệnh này đã tiêu diệt lượng lúa đủ để nuôi hơn 60 triệu người. Bệnh đạo ôn diễn ra ở 85 quốc gia trên toàn thế giới[4].

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Couch BC, Kohn LM, 2002. A multilocus gene genealogy concordant with host preference indicates segregation of a new species, Magnaporthe oryzae, from M. grisea. Mycologia 94: 683–693.
  2. ^ Rice Blast at Factsheets on Chemical and Biological Warfare Agents
  3. ^ Rice Blast at University of California Integrated Pest Management
  4. ^ Scardaci, S.C. (2003). “A New Diseases in California”. University of California-Davis: Agronomy Fact Sheet Series 1997-2. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2010. Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
Chúng tôi bán
Bài viết liên quan
Distinctiveness quan trọng như thế nào?
Distinctiveness quan trọng như thế nào?
Tức là thương hiệu nào càng dễ mua, càng được nhớ đến trong nhiều bối cảnh mua hàng khác nhau thì sẽ càng được mua nhiều hơn và do đó có thị phần càng lớn
Giới thiệu các Tộc và Hệ trong Yugioh
Giới thiệu các Tộc và Hệ trong Yugioh
Trong thế giới bài Yu - Gi- Oh! đã bao giờ bạn tự hỏi xem có bao nhiêu dòng tộc của quái thú, hay như quái thú được phân chia làm mấy thuộc tính
Nhân vật Shuna - Vermilion Vegetable trong Tensura
Nhân vật Shuna - Vermilion Vegetable trong Tensura
Shuna (朱菜シュナ shuna, lit. "Vermilion Vegetable "?) là một majin phục vụ cho Rimuru Tempest sau khi được anh ấy đặt tên.
Sơ lược lịch sử đầy chính trị của Phở
Sơ lược lịch sử đầy chính trị của Phở
Phở đã trở nên gần gũi với Văn hóa Việt Nam tới mức người ta đã dùng nó như một ẩn dụ trong các mối quan hệ tình cảm