Họ Thanh thất (danh pháp khoa học: Simaroubaceae) là một họ nhỏ, chủ yếu là các loài cây nhiệt đới thuộc bộ Bồ hòn (Sapindales). Trong các thập kỷ gần đây nó là chủ đề của nhiều tranh luận trong phân loại học, với một vài họ nhỏ khác được tách ra hay nhập vào nó.
Loài được biết đến nhiều nhất là cây xú xuân (Ailanthus altissima), có nguồn gốc ở vùng ôn đới thuộc Trung Quốc, nhưng hiện nay đã phân bổ rộng khắp thế giới như một loài cây dại trong các khu đô thị.
Tại Việt Nam không có loài nào thuộc chi điển hình Simarouba (phân bố tại Bắc Mỹ và Nam Mỹ) nên họ này lấy tên gọi trong tiếng Việt theo cây thanh thất (Ailanthus triphysa). Một loài cây khác tại Việt Nam gọi là xoan rừng (các tên khác: sầu đâu, sầu đâu rừng, nha đảm v.v, Brucea javanica) là một vị thuốc trong Đông y. Tên gọi sầu đâu hay nha đảm dễ gây nhầm lẫn. Chi tiết cụ thể xem bài Xoan.
Theo L. Watson và M. J. Dallwitz trong The Families of Flowering Plants (Các họ thực vật có hoa) từ năm 1992 trở đi thì được sáp nhập vào họ này là các họ nhỏ như: Ailanthaceae (J.G. Agardh), Castelaceae (J.G. Agardh), Holacanthaceae (Jadin), Simabaceae (Horan.), Soulameae (hay Soulameaceae Endl.) còn các họ bị loại ra là Irvingiaceae, Ixonanthaceae, Kirkiaceae, Leitneriaceae, Picramniaceae, Surianaceae v.v...
Là cây gỗ to hay nhỏ. Lá mọc cách, đơn hay kép hình lông chim một lần, không có lá kèm. Phiến lá không có chấm trong mờ, khi rụng có màu đỏ; cuống chung đôi khi có cánh. Cụm hoa tán, xim, chùm ở nách lá hay ở ngọn. Hoa nhỏ, đều, thường đơn tính, mẫu 3 hay mẫu 5. Bao hoa có lá đài tồn tại dưới quả. Bộ nhị có số nhị bằng hay gấp đôi số cánh hoa, luôn luôn rời, đính ở dưới đĩa mật. Bộ nhụy từ 2–5 lá noãn rời hay dính nhau thành bầu trên; mỗi lá noãn có 1 noãn. Quả hạch, quả cánh, đôi khi quả mập.[2] Có ống tiết quanh tủy, đôi khi có tế bào tiết. Bộ máy dinh dưỡng có vị đắng.
Thanh thất (tên khác: bút) (Ailanthus triphysa (Dennst.) Alston, đồng nghĩa: A. malabarica DC.): Vỏ cây dùng trị lỵ, bạch đới; còn có tác dụng bổ và hạ nhiệt. Quả dùng làm thuốc chữa ho và điều kinh.
Khổ sâm nam (tên khác: sầu đâu rừng, sầu đâu cứt chuột) (Brucea javanica (L.) Merr.). Các bộ phận của cây đều có chất đắng. Hạt dùng làm thuốc trị bệnh kiết lỵ rất công hiệu nhất là lỵ amib; còn dùng trị sốt rét, trĩ, sán, lãi.
Thằn lằn (Quassia amara L.). Du nhập từ Trung/Nam Mỹ. Gỗ và rễ có vị đắng, được dùng làm thuốc bổ đắng, giúp tiêu hoá và chống sốt.
^ ab"Family: Simaroubaceae DC., nom. cons". Germplasm Resources Information Network. United States Department of Agriculture. ngày 17 tháng 1 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2011.
^Trương Thị Đẹp (2007), Thực vật dược, Nhà xuất bản Giáo dục, tr. 251 - 252.
^Muellner-Riehl A. N., Weeks A., Clayton J. W., Buerki S., Nauheimer L., Chiang Y.-C., Cody S., & Pell S. K. 2016. Molecular phylogenetics and molecular clock dating of Sapindales based on plastid rbcL, atpB and trnL-trnF DNA sequences. Taxon 65(5): 1019-1036. doi:10.12705/655.5
^Sun M., Naaem R., Su J.-X., Cao Z.-Y., Burleigh J. G., Soltis P. S., Soltis D. E., & Chen Z.-D., 2016. Phylogeny of the Rosidae: A dense taxon sampling analysis. J. Syst. Evol. 54(4): 363-391. doi:10.1111/jse.12211
^Clayton J. W., Fernando E. S., Soltis P. S. & Soltis D. S. 2007. Molecular phylogeny of the tree-of-heaven family (Simaroubaceae) based on chloroplast and nuclear markers. Internat. J. Plant Sci. 168(9): 1325-1339. doi:10.1086/521796
^Clayton J. W., Soltis P. S. & Soltis D. S. 2009. Recent long-distance dispersal overshadows ancient biogeographical patterns in a pantropical angiosperm family (Simaroubaceae, Sapindales). Syst. Biol. 58(4): 395-410. doi:10.1093/sysbio/syp041